Hình tượng người phụ nữ trong 2 vở kịch múa “Trăng treo” và “Ballet Kiều”

0
420

Phương Lan

Từ lâu, vẻ đẹp của người phụ nữ đã trở thành nguồn cảm hứng và đề tài vô tận trong các sáng tạo nghệ thuật, thu hút sự quan tâm của đông đảo giới nghệ sĩ. Điều này không chỉ góp phần tôn vinh cái đẹp, mà còn cất lên tiếng nói nữ quyền về giá trị của người phụ nữ. Lấy cảm hứng từ đề tài quen thuộc này, 2 vở kịch múa lớn trong năm 2020 của Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam là “Trăng Treo” (Biên đạo NSND Ứng Duy thịnh) và “Ballet Kiều” (Biên đạo Tuyết Minh) đã mang lại cho khán giả nhiều cung bậc cảm xúc mới lạ khi khai thác thành công hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến và người phụ nữ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

“ Trăng treo”

Chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ nhưng hình ảnh những người nữ thanh niên xung phong đã dành trọn những tháng năm đẹp nhất của cuộc đời mình chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc luôn là hình ảnh đẹp vô cùng. Tri ân sự hy sinh vĩ đại đó, PGS.TS.NSND Ứng Duy Thịnh đã tái hiện thật xúc động không gian của chiến trường năm xưa trên sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội qua kịch múa Trăng treo.    

Trăng treo được mở đầu bằng hình ảnh lớp lớp thanh niên tình nguyện ra chiến trường. Nhiều cô bé mười sáu, mười bảy tuổi đã xung phong ra trận, bỏ lại ước mơ dang dở vào học nhạc viện, trở thành diễn viên múa như mơ ước. Hình ảnh rừng cây hun hút phía cuối sân khấu, những chiếc võng đã sờn, những phến đá làm giường, những lùm cây làm nơi trú ngụ,…không gian sân khấu đơn giản nhưng khắc họa rõ nét cuộc sống kham khổ, thiếu thốn của những nữ thanh niên xung phong nơi rừng thiêng nước độc.

Trăng treo không theo lô gic phát triển từ đầu đến cuối, chỉ từ những mảng miếng mà tạo thành hình tượng người phụ nữ đẹp trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Tình đồng đội vào sinh ra tử, vai kề vai sát cánh đã dìu nhau bước qua lửa đạn. Những người phụ nữ vĩ đại trong sinh hoạt nhỏ bé, trong tình yêu e ấp nơi chiến trường, trong hoạt động mở đường, san lấp hố bom,…tất cả khắc họa lên thật đẹp “những năm tháng đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt” (Chế Lan Viên).

Nơi chiến trường ác liệt đâu chỉ có máu và thuốc súng, những trận sốt rét kinh hoàng cũng cướp đi bao mạng người. Lịm đi trong cơn sốt rét, họ tựa vào nhau như những mảnh trăng yếu ớt, với tìm nhau trong hơi ấm của tình đồng đội. Chiến tranh cũng giống như một trận cuồng phong, lạnh lùng cuốn phăng tất cả. Tuổi trẻ, hạnh phúc, mơ ước, hoài bão…bỗng chốc hóa thành hư vô. Khi cơn bão chiến tranh tràn qua, nhiều cuộc đời trở thành dang dở, nhưng có lẽ khắc khoải nhất vẫn là những người phụ nữ. Họ chơi vơi, vô định trên con đường đi tìm hạnh phúc. Chỉ còn đó người mẹ ngày ngày ngóng chờ con gái trở về từ tiền tuyến. Nước mắt đã cạn, nỗi đau in hằn lên những nếp nhăn, mẹ vẫn ở đó chờ con gái mẹ trở về đoàn tụ. Rồi mẹ sẽ lại được hát ru con ngủ, được nghe tiếng cười lảnh lót trẻ thơ…

Bức thư gửi mẹ trước khi mất 5 ngày của liệt sĩ Võ Thị Tần, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 4, Đại đội 552 Thanh niên xung phong Hà Tĩnh.

Chiến tranh cách mạng là đề tài không mới, nhưng qua tài biên đạo của NSND Ứng Duy Thịnh – một biên đạo múa gạo cội, một đại tá từng công tác trong quân đội, cuộc sống nơi chiến trường hiện lên thật khác, không hề khô khan, giáo điều, không hề “đao to búa lớn” mà cứ âm ỉ, day dứt lòng người. Tác phẩm có nội dung nhân văn, diễn biến logic, chặt chẽ, diễn viên múa có kỹ thuật và khả năng nhập vai tốt, khắc họa được nội tâm nhân vật, biểu cảm ngôn ngữ hình thể với những tạo hình động tác mới lạ, sân khấu thiết kế có chiều sâu, gây nhiều ấn tượng với người xem. 

Trăng treo là lời tri ân sâu sắc của tác giả với thế hệ đi trước, đồng thời thể hiện cái nhìn thấu hiểu, sẻ chia của biên đạo về người phụ nữ Việt Nam đi qua chiến tranh. Qua đây chúng ta cũng nhận ra những dịch chuyển về góc nhìn, thái độ, suy tư và cảm xúc của con người hậu chiến.

Ballet Kiều

Khác với “Trăng treo”, hình ảnh người phụ nữ trong “Ballet Kiều” của biên đạo múa Tuyết Minh là nạn nhân của xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, coi trọng bạc tiền. Kiều – người con gái “hồng nhan bạc phận” hiện lên với đầy đủ các cung bậc cảm xúc hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ốqua 15 cảnh, 3 hồi với những sắc thái tâm lý đa dạng, thể hiện rõ nét tâm hồn đa cảm, mãnh liệt và trái tim khát khao đi tìm hạnh phúc của nàng Kiều nói riêng, người phụ nữ Việt Nam nói chung.

Kiều xuất hiện trong vở kịch múa cùng tên đẹp từ ngoại hình đến tính cách, dáng vẻ thanh thoát, yêu kiều, dịu dàng, tài sắc vẹn toàn, hiếu nghĩa. Tuy nhiên, càng xinh đẹp nàng lại càng đau khổ, càng phải chịu nhiều chèn ép, bất công. Những luật lệ hà khắc thời Phong kiến nghiệt ngã như giăng tơ quấn chặt lấy người phụ nữ đa đoan, để rồi đành phải phó mặc cuộc đời trong tay kẻ khác. Những giằng xé, đớn đau của nhân vật đã được đẩy lên cao trào ở cảnh Bạch My Thần khiến không ít người xem rơi lệ. 

Nhân vật Kiều được biên đạo múa Tuyết Minh đặt nhiều tâm huyết, chị chú trọng những tiêu chí về kỹ thuật phải đạt được trong niêm luật của bộ môn múa ballet. Mặt khác, để thể hiện được tâm hồn người phụ nữ Việt Nam, khắc họa được những nét tính cách nhân vật điển hình, diễn viên phải thấm đẫm văn hóa phương Đông, cốt cách tinh thần và bản sắc văn hóa Việt Nam. Do đó, mỗi cử chỉ, động tác tổ hợp múa đều có sự chắt lọc những thủ pháp mang tính sáng tạo cao để truyển tải nội dung tư tưởng của tác phẩm. Phải nói rằng Nghệ sĩ Ưu tú Trần Hoàng Yến vào vai Kiều rất đạt, đáp ứng được nhiều tiêu chí mà người biên đạo đề ra.

Âm nhạc được đầu tư kỹ lưỡng với 2 phong cách semi classic bán cổ điển và dân gian dân tộc Việt Nam đã góp phần thành công trong việc thể hiện nội tâm nhân vật. Nhạc ca trù dẫn người xem vào không gian u uẩn như dự báo trước tai ương của Kiều, lúc lại cao vút với giọng hát giả thanh khi Kiều bị đưa vào chốn lầu xanh, lúc lại là giọng hung tợn, man trá của Tú Bà. Tiếng đàn lúc thầm thì, da diết, xót xa, ngậm ngùi, lúc thổn thức, rạo rực, có trường đoạn lại như gào thét tang thương… Âm nhạc dân tộc, đương đại thăng hoa cùng hiệu ứng thị giác công nghệ máy chiếu Hologram khiến cho cái kết trầm mình dưới nước của Kiều trở nên chân thật như đang hiển hiện ngay trước mắt. Tất cả đã cộng hưởng tuyệt vời để khắc họa thật sống động hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xưa với nhiều vòng xoáy bi kịch trói buộc hà khắc.

Có thể nói, 15 năm đoạn trường của nàng Kiều được tái hiện thật xuất sắc qua ngôn ngữ chuyển động hình thể trong múa. Điều đặc biệt là những ý tứ phải bật được ra trên nền của ballet cổ điển phương Tây – bộ môn nghệ thuật mà trước đây vốn chỉ dành cho giai cấp quý tộc ở nước ngoài, nhưng khi đưa vào tác phẩm ballet của Việt Nam đã truyền tải được tâm hồn Việt. Điều đó được thể hiện ở các động tác múa của dân tộc Kinh, ở nét sân khấu truyền thống của Tuồng, Chèo, ở những câu ca dao, hát ru, những câu lảy Kiều, ca trù, hát xẩm, Tuyết Minh và ekip đã chắt lọc và cách điệu nó để trở thành những thủ pháp kết hợp với nền tảng của kỹ thuật ballet cổ điển châu Âu để chuyển tải được tư tưởng của đại thi hào Nguyễn Du, đồng thời cũng đạt được thẩm mỹ của khán giả đương đại.

Thông qua nghệ thuật múa, Kiều được sống trong thế giới âm nhạc, ánh sáng, trong tạo hình, trang phục, trong tư duy và cấu trúc của múa. Từ đó vẻ đẹp của Kiều được tôn vinh bằng múa ballet trên giày mũi cứng, tạo nét đẹp mới lạ. Kiều bước ra khỏi câu chuyện cũ để bước lên sân khấu hiện đại để trở nên gần gũi với khán giả hôm nay.

Kịch múa “Ballet Kiều” cũng là tấm lòng đồng cảm của biên đạo và đội ngũ ekip với thân phận người phụ nữ Việt Nam xưa. Họ phải sống trong bủa vây của bất công, đọa đày, không tình yêu, không hạnh phúc, không tiếng nói. Nhưng chính những áp bức đó đã làm sáng ngời lên những đức tính, phẩm hạnh đáng trân quý của người phụ nữ Việt Nam.