- LÝ LUẬN-PHÊ BÌNH

  PHÁT HUY GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT MÚA CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ

Vùng đất Nam bộ là nơi hội tụ bởi nhiều tộc người, gồm có người Kinh, người Hoa, người Chăm, người Khmer… đã tạo nên bản sắc Văn hóa Việt ở phía Nam“vừa thống nhất mà đa dạng trong sắc màu văn hóa” ở vùng đất cộng cư này, đã diễn ra mối quan hệ, giao lưu văn hoá trên nhiều lĩnh vực đã tạo nên bản sắc văn hóa đặc thù của Nam Bộ. Nghệ thuật múa là đề tài rất đa dạng, phong phú. Nó được tạo nên bởi nhiều yếu tố khác nhau như: dân cư, địa bàn cư trú, kinh tế, xã hội và văn hóa (phong tục tập quán, ma chay, cưới xin, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, tết cổ truyền…). Trong khuôn khổ bài viết, tác giả đề cập đến nghệ thuật múa tộc người Khmer, một nét đặc trưng của văn hóa Nam Bộ.

Từ lâu đời nghệ thuật múa đã gắn bó, đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Khmer. Nó đã và đang góp phần tô thắm cho vườn hoa nghệ thuật các dân tộc Việt Nam thêm đa dạng phong phú. Múa của người Khmer gắn với tín ngưỡng – tôn giáo và trong phong tục tế lễ tiêu biểu như: lễ tế thần linh, lễ rước thần, lễ cầu an và lễ Arăk và việc tổ chức các lễ hội. Các hình thái múa dân gian, múa sân khấu và múa cung đình cũng được định hình, đến nay ổn định và trở thành di sản quí giá của tộc người Khmer. 

Múa dân gian

Múa dân gian, một hình thái rất gần gũi với đời sống sinh hoạt và lao động của nhân dân, có tính chất vui chơi giải trí còn gọi là múa sinh hoạt cộng đồng, tính chất đơn giản dễ múa, dễ nhớ, dễ hiểu và có sự tác động đến người xem một cách hấp dẫn trong lễ tết hội thể hiện qua từng điệu múa Rom Vông, Xaravan, Rom lêu, Rom Kbach, Tà lung, trống Xayam, xúc tép – Xàniêng, gáo dừa, gặt lúa, giã gạo… Đến giữa thế kỷ XIX, múa Khơmer hình thành nên hai hình thái múa dân gian sinh hoạt và múa dân gian biểu diễn. Múa dân gian nó gắn liền với văn hóa tộc người, là một bộ môn nghệ thuật hết sức quan trọng và gần gũi với đời sống văn hóa của người dân Khmer, mang tính cộng đồng phản ánh hiện thực đời sống, được hình thành từ rất sớm và lâu đời. Múa dân gian dân tộc Khmer hòa quyện như một sự giao thoa giữa con người với thiên nhiên, hòa quyện trong đời sống của nhân dân. Do đó dễ hiểu, dễ thuộc, dễ nhớ, từ trẻ con người lớn đến các cụ già đều biết múa và ai cũng thích múa, khi họ vui là họ múa, khi họ mừng thì họ múa và khi họ muốn khởi đầu một sự việc, công việc nào đó hay cúng tế, tạ ơn thì họ cũng múa. Trong bất kỳ lễ hội nào của người Khmer ở Nam Bộ thì múa luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu được, chỉ cần có tiếng kèn và nhịp trống là có múa.

Múa dân gian – một hình thái rất gần gũi với đời sống sinh hoạt và lao động của nhân dân, không hạn chế số lượng, không nhất thiết theo khuôn khổ sân khấu, múa tập thể có tính chất vui chơi giải trí còn gọi là múa sinh hoạt cộng đồng, đều mang tính chất đơn giản dễ múa, dễ nhớ, dễ hiểu và có sự tác động đến người xem một cách hấp dẫn, có thể nói ai thấycũng đều thích múa, muốn múa, ai cũng có thể múa được và ai cũng có thể biết múa. Từ những đôi tay mềm mại, từ những đôi chân nhịp nhàng phối hợp với sự dịu dàng của cơ thể con người qua những động tác, điệu múa cho chúng ta thấy như múa tập thể của từng cặp đôi trai gái trong dịp lễ hội, lễ mừng và các cuộc tổ chức lễ khác,… được thể hiện qua từng điệu múa Rom Vông, Xaravan, Rom lêu, Rom Kbach, Tà lung,… đều là những điệu múa rất phổ biến.

Múa trống Xayam (hay còn gọi là trống Xà dăm) cũng là điệu múa dân gian có từ xa xưa và là phần độc vũ của nam giới. Khi múa, người múa đeo trống trước bụng, trống vừa là nhạc cụ đệm, vừa là đạo cụ múa. Múa trống Xayam có thể sử dụng cho nhiều hình thức trong các lễ hội như: lễ tế, lễ hội, lễ mừng, lễ khác và lễ cưới,… được dàn dựng thành tác phẩm trên sân khấu một cách phong phú và đa dạng, người múa trống Xayam thường được chọn là nhân vật trọng tâm của buổi lễ như đại diện là nhân vật dẫn đường, đại diện là nhân vật kính lễ hay nhân vật mở đầu cho sự việc nào đó khi bắt đầu vào lễ hội, lễ khác hay một tổ chức biểu diễn nào đó, nó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự hiếu hảo, đón khách và hiếu khách,… vừa là một hình tượng tâm linh đối với người dân, đại diện cho sự may mắn, sung túc, chúc phúc, mang niềm an vui đến mọi người, mọi nhà. Múa trống Xayam là một điệu múa hay, độc đáo, trình diễn trong mọi lĩnh vực sinh hoạt văn hóa cộng đồng và trong các hoạt động tôn giáo của người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long, được mọi người yêu thích. Múa trống Xayam có nhiều yếu tố ngẫu hứng, kĩ thuật, kĩ xảo, yếu tố tạp kĩ rất độc đáo. Các động tác đi, đứng, quỳ, uốn, lượn ngả người, xoay người, lăn người luôn biến đổi, thế múa rất linh hoạt, vừa múa vừa đánh trống rất nhiều dạng, nhiều kiểu. Múa đánh trống bằng bàn tay, nắm tay, khuỷu tay, gót chân, đầu gối, cắn trống dựng đứng để múa,… một đặc điểm quan trọng là khi thể hiện, người múa luôn trùng đầu gối, nhích vai cùng các động tác của đầu và cổ đưa ra phía trước, cho thấy tính cách hài hước, hóm hỉnh của người Khmer Nam Bộ.

Múa Xarikakeo là một điệu múa đặc sắc được đồng bào ưa thích, nhất là tuổi trẻ, thanh niên nam nữ bởi tính cách vui nhộn, sinh động, phóng khoáng và linh hoạt theo tình cảm, tính cách vốn có của người Khmer; Múa gáo dừa (khôs trolôt), cũng có những nét đặc trưng riêng biệt, vui nhộn, sôi động, duyên dáng, rất phù hợp với tâm hồn, tính cách của đồng bào, được nhiều người yêu thích và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng, thiên về vui nhộn, hóm hỉnh, tinh ngịch, như đùa ghẹo giữa nam và nữ. Thường là múa hai nam hai nữ, tuy nhiên cũng có khi sáu, tám, mười, mười hai người cùng múa và thường thanh niên, thiếu niên trình diễn.

Ngoài ra, còn có các điệu múa dân gian khác như: múa xúc tép-Xàniêng (chniêng), múa gặt lúa (cas-srâu), múa giã gạo (bok-ân-co), tất cả là sản phẩm của lao động và sự sáng tạo.

Múa Sân khấu

Múa sân khấu “Rô băm” và “Dù kê” là loại hình sân khấu ca vũ kịch có cốt truyện rõ ràng, được kết cấu theo chương hồi, diễn ra lễ hội chùa, lễ hội trong phum sóc hay lễ cầu an, có yếu tố chuyên nghiệp, hình thành từ xa xưa, có nguồn gốc từ biểu diễn phục vụ cung đình và đến nay luôn đồng hành, không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của người Khmer.[1]

Sân khấu Rô băm diễn theo tích truyện cổ, kết cấu theo kịch hát truyền thống, có tính tiết,  tự sự với ngôn ngữ múa quán xuyến, kết hợp với nghệ thuật ngôn từ. Cốt truyện kịch đều xoay quanh việc thiện chống ác, cuối vở bao giờ thiện cũng thắng ác. Các nhân vật của tích truyện thường thuộc tầng lớp quý tộc như: vua, chúa, quan, thần. Trong vở diễn bao giờ cũng có hai tuyến nhân vật: tuyến nhân vật thuộc phái thiện gồm: vua, hoàng tử, hoàng hậu, công chúa, tiên ông… còn tuyến nhân vật đại diện cho phái ác là các nhân vật: chằn (chằn có nhiều loại: vua chằn, chằn con, chằn anh, chằn em, chằn có phép thuật, chằn không có phép thuật…). Những động tác múa cho tuyến nhân vật thiện luôn thể hiện tính chất khoan thai, nhẹ nhàng qua các động tác múa. Tuy nhiên, trong mỗi tình huống cụ thể, mỗi vai có cách thể hiện khác nhau: lúc đĩnh đạc, bình tĩnh; lúc dồn dập, quyết liệt khi đối đầu với kẻ thù; lúc lại tình tứ, tha thiết với những người yêu thương. Tùy theo vai diễn, tính cách nhân vật, nội dung vở diễn mà người diễn viên ứng biến sao cho phù hợp với tính chất của động tác múa. Mỗi động tác múa được sử dụng vào vai diễn trên sân khấu đều được quy định chặt chẽ, không thể tự động thêm thắt trên sân khấu. Bên cạnh các nhân vật người còn có các nhân vật thú như khỉ, rùa, cá sấu, đại bàng, rồng, cóc… Động tác múa của nhân vật thú có điểm chung là: bắt chước, mô phỏng theo hành động của con vật ngoài đời, có thật trong thiên nhiên, từ đó nhân cách hóa, nghệ thuật hóa hành động thành các động tác múa trên sân khấu Rô băm. Nhân vật thú thuộc phái thiện nổi bật nhất là khỉ Hanuman. Vai khỉ Hanuman luôn do nam diễn viên đóng. Cũng như các nhân vật thú khác, khỉ Hanuman đeo mặt nạ. Trong sân khấu Rô băm, khỉ Hanuman có phép thuật biến hóa linh diệu, với sự mưu trí, thông minh, nhanh nhẹn, luôn giúp những con người lương thiện chống lại cái ác và chiến thắng cái ác.

Múa trong sân khấu Dù kê là hình thức múa trong kịch hát Khmer, ra đời vào những năm 20 của thế kỷ trước, tại Trà Vinh, Sóc Trăng nơi có đông người Khme sinh sống. Kịch bản của sân khấu Dù kê đa dạng về các đề tài, từ truyện cổ Riêm Kê đến các đề tài dân gian, lịch sử, tôn giáo6… và cả những vở tuồng tích của người Hoa như: Tiết Nhơn Quý, Tam Tạng thỉnh kinh… hay từ sân khấu cải lương của người Kinh như: Tấm Cám, Phạm Công – Cúc Hoa, Thạch Sanh – Lý Thông…Nếu như trong sân khấu Rô băm chỉ có chất liệu múa Khmer cổ điển, thì múa trong sân khấu Dù kê lại rất đa dạng, phong phú về các chất liệu múa: múa Khmer dân gian, múa Khmer cổ điển, tiếp nhận cả múa trong sân khấu kịch hát của người Kinh và sân khấu kịch hát của người Hoa. Múa trong sân khấu Dù kê cũng có hai hình thức trình diễn: múa nhiều người (múa minh họa, gây không khí) và múa ít người (múa diễn tả tính cách nhân vật). Các nhân vật trong múa Dù kê được chia thành hai tuyến: thiện và ác rõ ràng. Sân khấu múa Dù kê không có những quy định nghiêm ngặt khi sử dụng các động tác múa cho vai diễn tuyến nhân vật thiện như sân khấu múa Rô băm. Chính vì vậy, múa trong Dù kê không có hệ thống động tác cho từng nhân vật. Các chất liệu múa luôn được đạo diễn, biên đạo múa lựa chọn phù hợp với vai diễn và nội dung tích truyện. Với cơ chế mở đó, tạo điều kiện cho các diễn viên được quyền sáng tạo trong vai diễn của mình. Các nhân vật tuyến thiện là: vua, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa… chất liệu múa chủ yếu là múa cổ điển Khmer. Còn với các vở có nội dung phản ánh cuộc sống, xã hội đương đại, các nhân vật là: bà mẹ, ông lão, cô gái, tiều phu, thôn nữ…, chất liệu múa được lấy chủ yếu từ múa dân gian Khmer. Trong các vở tích cổ, sân khấu múa Dù kê cũng có những vai diễn thú, nổi bật là vai diễn khỉ Hanuman. Các động tác múa cho các nhân vật thiện có đặc điểm chung là: các động tác tay luôn cao ngang hoặc thấp hơn vai, thể hiện sự khiêm tốn, chừng mực nhưng luôn uyển chuyển và quyết đoán. Vai diễn ác (chằn) luôn là vai diễn chính của các vở diễn tích cổ trong sân khấu Dù kê, là kho tàng nghệ thuật múa Dù kê thêm phong phú, đa dạng với nhiều loại hình, loại thể và hình thức múa. Đây cũng là vai múa duy nhất thể hiện tính cách nhân vật có được hệ thống động tác, điệu múa của riêng mình. Múa trong sân khấu Dù kê luôn song hành cùng âm nhạc và lời hát. Người diễn viên sân khấu Dù kê không chỉ là người có thể linh hoạt xử lý các động tác múa theo nội dung tuồng tích mà còn có thể cảm thụ âm nhạc, diễn theo nhạc (vui, buồn, giận giữ…).

Múa Cung đình (múa cổ điển)

Múa cổ điển là hình thái múa mực thước, trang trọng, mang tính cổ kính. Múa Cổ điển được hình thành từ rất sớm, nó đã trở thành thể loại múa có bài bản, chuẩn mực và có hệ thống cơ bản rõ ràng, có trường dạy nghề hoặc có thầy chỉ giáo từ nhỏ (từ 6 – 7 tuổi).

 Hình thái múa cổ điển đã trở thành một thể loại múa có tính khái quát cao, đòi hỏi ở người diễn viên phải có sự khổ luyện từ hình thể, tay, chân đến nụ cười ánh mắt đều phải tập theo những chuẩn mực cổ điển, từ ngón tay cho đến gót chân đều có tiếng nói riêng. Tất cả những chi tiết cụ thể đều là chuẩn mực cơ bản để đánh giá đẳng cấp của người nghệ sĩ múa. Múa cổ điển phần lớn là nữ, những nhân vật nam cũng chính là nữ đóng. Múa chủ yếu trên tuyến đội hình đơn giản, tiết tấu chậm rãi, khoan thai, sâu lắng, đầm, chắc, năm đầu ngón chân luôn móc, đầu gối luôn trùng với những động tác mềm mại. Đó không chỉ là sự phối hợp hài hòa các cử chỉ tay, chân, đầu, ánh mắt và hình thể mà còn có cả sự hòa hợp giữa nét mặt, thần thái lẫn tâm hồn, chủ yếu dùng hình tượng cơ thể để khắc họa tâm trạng như múa chim thần (Krud), tiên (Kennâr), Apsara, dâng hoa6… Bên cạnh đó, còn có những loại múa lâu đời đậm màu sắc tôn giáo như múa lên đồng (Arak), có những loại múa trong đám cưới (Rom bớt-labon, Rom Căt phka sla, Rom-bô Cahtel,…). Từ những diễn tả tâm trạng bằng hình tượng cơ thể, dần dần những động tác múa được quy nạp chuẩn mực, quán xuyến như một đặc trưng đậm bản sắc.

Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản múa Khmer Nam Bộ

– Bảo tồn nghệ thuật múa ngay từ trong gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư và từng địa phương để nghệ thuật dân gian Khmer trở về với cộng đồng dân tộc thông qua các hoạt động truyền dạy ngay từ trong gia đình, dòng họ, khu dân cư, nhà văn hóa, câu lạc bộ và trong các cơ sở giáo dục.

– Chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy múa Khmer, tìm những người có khả năng chuyên môn, tâm huyết, yêu nghề, có kinh nghiệm giảng dạy trong các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, có cơ chế, chính sách thu hút người dạy, nâng chế độ thù lao giảng dạy theo ngành nghệ thuật mang tính đặc thù.

– Phát hiện, tìm kiếm những nghệ sĩ, nghệ nhân cao tuổi đã có nhiều công sức cống hiến, gìn giữ, bảo tồn và có những đóng góp cho việc phát huy, phát triển nghệ thuật múa Khmer, đồng thời làm thủ tục trình cấp có thẩm quyền phong tặng, truy tặng danh hiệu nghệ sỹ ưu tú, nghệ nhân ưu tú, nghệ sỹ nhân dân đối với những người đủ điều kiện.

Sưu tầm, nghiên cứu, bảo lưu giá trị truyền thống

– Tăng cường các hoạt động sưu tầm, nghiên cứu, thu thập ghi chép các chất liệu, tư liệu “sống” đang còn tiềm ẩn trong cộng đồng dân tộc, có nguy cơ mai một để khai thác giá trị còn lại nhằm gìn giữ, bảo tồn những giá trị di sản múa Khmer. Tích cực làm công tác nghiên cứu khoa học, sử dụng công tác lý luận phê bình, tìm ra giá trị đích thực của di sản múa Khmer; tăng cường kinh phí cho hoạt động sưu tầm nghiên cứu khoa học. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà giáo, nghệ nhân, các tác giả tham gia chỉnh lý, cải biên, dàn dựng, sáng tác, huấn luyện múa Khmer.

– Múa Khmer có ba hình thái, mỗi hình thái đều có một giá trị thực tiễn khác nhau. Nếu múa cổ điển là hình thái múa mực thước, trang trọng, mang tính khái quát cao; múa sân khấu lại kế thừa phát huy được tính mực thước có tình tiết, mang tính tự sự với ngôn ngữ múa quán xuyến, kết hợp với nghệ thuật ngôn từ (múa Rô Băm); có sự kết hợp giữa múa cổ điển và múa dân gian (múa Dù Kê) thì múa dân gian thể hiện trong sinh hoạt cộng đồng, tính chất đơn giản, dễ múa, dễ hiểu tác động đến người xem một cách hấp dẫn trong lễ tết hội. Do đó trong bảo tồn các giá trị di sản múa không nên tuyệt đối hóa, coi trọng hình thái múa nào mà cần có thái độ nghiêm túc và bình đẳng. Cụ thể trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, cần đổi mới hình thức và phương pháp đào tạo dài hạn đối với múa cổ điển (có thể đào tạo ở trường chuyên nghiệp hoặc ngay ở tại địa phương từ các đơn vị nghệ thuật và các nghệ nhân), đào tạo trung hạn đối với múa sân khấu, đào tạo ngắn hạn đối với múa dân gian (kết hợp giữa gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư đào tạo múa dân gian ngay trong phun, sóc (làng, bản, thôn, xóm). Như vậy, công tác đào tạo đã được xã hóa ngay tại các địa phương, giảm được chi phí, tận dụng được nguồn nhân lực sẵn có ở địa phương.

 – Hoàn thiện hệ thống giáo trình, chương trình đào tạo chính qui, không chính qui và đào tạo ngắn hạn. Hàng năm cần có chỉnh lý, bổ sung, có trao đổi, tập huấn giáo viên và rất cần có sự quan tâm trực tiếp, thống nhất trong thực hiện chương trình đào tạo của cơ quan chủ quản về đào tạo múa Khmer, giữa các cơ sở đào tạo múa ở các địa phương và Trung ương, rút ngắn khoảng cách về chất lượng đào tạo.

Nâng cao và phát triển

– Tạo những sân chơi chuyên ngành như tổ chức liên hoan, hội thi, hội diễn dành cho từng đối tượng chuyên nghiệp, không chuyên nghiệp, lễ hội truyền thống, sân khấu cổ điển, sân khấu dân gian, để tìm kiếm những tài năng về sáng tác, khả năng biểu diễn của nghệ thuật múa Khmer.

– Mạnh dạn làm công tác thể nghiệm để nâng cao múa sân khấu Dù Kê, sao cho phù hợp với sự phát triển của xã hôi, bởi bản thân hình thái múa này đã mang tính dân gian phối hợp cổ điển. Nếu yếu tố đương đại được pha trộn có chừng, có mực thì sẽ tạo điều kiện chắp cánh cho cổ điển phát triển, có cơ hội cho dân gian vững bước tiến lên, tạo được hơi thở mới cho múa Khmer. Nhưng cần phải thận trọng, có nghiên cứu, sưu tầm và thử nghiệm, có sự tham khảo của các chuyên gia về nghệ thuật và có sự trải nghiệm thực tế.

– Định kỳ tổ chức hội thảo, diễn đàn khoa học dành cho việc nghiên cứu, lý luận và phê bình về các hoạt động múa của người Khmer. Đánh giá đúng mức những thành tựu đã đạt được đồng thời tìm ra nguyên nhân hạn chế và nguy cơ thách thức để nghệ thuật múa Khmer phát triển bền vững.

Chính sách cho người hành nghề và học nghề:

– Đối với nghệ sĩ, diễn viên hành nghề múa cần có chính sách lương, chế độ thù lao cho hoạt động sáng tạo thỏa đáng (luyện tập, biểu diễn, thanh sắc), nên áp dụng chế độ thù lao như vận động viên (hạng, cấp), cần điều chỉnh phụ cấp nghề cho phù hợp với mức sống hiện nay, đảm bảo cho nghệ sĩ, diễn viên có thể sống bằng nghề.

– Học sinh chuyên nghiệp trúng tuyển học nghệ thuật múa cần có cơ chế, chính sách ưu đãi và miễn giảm học phí cần trực tiếp và cụ thể hơn (chính sách như hiện nay đang áp dụng gây phiền hà nhiễu sách, khó vận dụng), ngân sách dành cho đào tạo nghệ thuật múa hàng năm cần phải được điều chỉnh bổ sung phù hợp với đặc thù nghề nghiệp và với sự phát triển của xã hội.

Nghệ thuật múa dân tộc Khmer là một loại hình nghệ thuật hết sức quan trọng và gần gũi với đời sống văn hóa xã hội của người dân Khmer, nó mang tính cộng đồng một cách hiện thực được hình thành từ rất sớm và lâu đời. Có thể nói múa là loại hình tiêu biểu nhất và có thể coi là vị trí hàng đầu trong các loại hình nghệ thuật khác của người dân Khmer, múa có sự tác động cao đến đời sống tinh thần trong những sinh hoạt cộng đồng của tộc người Khmer. Múa dân tộc Khmer “hòa quyện như một sự giao thoa giữa con người với thiên nhiên, hòa quyện trong đời sống của nhân dân, do đó ai cũng biết múa, từ trẻ con, người lớn, đến các cụ già đều biết múa và ai cũng thích múa, khi họ vui là họ múa, khi họ mừng thì họ múa và khi họ muốn khởi đầu một sự việc, công việc nào đó hay cúng tế, tạ ơn thì họ cũng lại múa”[2] nên rất cần được tôn trọng, gìn giữ và phát triển.

TS. Trương Đức Cường

                                                                                             

Chú thích:

[1] Trần Thị Lan Hương (2017), Nghệ thuật múa trong sân khấu Rô Băm và Dù Kê của người Khmer Nam Bộ, Luận án Tiến sỹ

[2] Phương Nghi (2015), Múa dân gian trong đời sống văn hóa của người Khmer, Tạp chí Văn hóa Dân tộc số 6 (256)

About nguyen thanh hoa

Read All Posts By nguyen thanh hoa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *