- LÝ LUẬN-PHÊ BÌNH

KỊCH MÚA VIỆT NAM ĐI VỀ ĐÂU

Trong khuôn khổ bài viết này tôi không có ý định phê phán một cách chủ quan phiến diện về quá trình hình thành và phát triển của Nghệ thuật Kịch múa Việt Nam mà chỉ muốn nói tới những hạn chế, khó khăn “bất khả kháng” đang tồn tại khiến cho tương lai của thể loại đỉnh cao của nền nghệ thuật Múa chuyên nghiệp của nước ta đã bị chững lại sau một giai đoạn được cho là “Thời kỳ Hoàng Kim” của KỊCH MÚA cuối thế kỉ 20 – đầu thế kỉ 21.

Trên thế giới, Kịch Múa (Ballet) được coi là bộ môn nghệ thuật đỉnh cao của nghệ thuật múa chuyên nghiệp! một vở kịch Múa có thể chuyển tải được đầy đủ nội dung chủ đề và các tình tiest, sự kiện của câu chuyện và trong một vở kịch múa đã tổng hợp các thể loại, hình thức Múa từ solo, duo, trio… đến múa tập thể, dư hứng… đưa người xem tới một câu chuyện, một sự kiện… thậm chí cả những câu chuyện cổ tích, thần thoại, một cuốn tiểu thuyết… cũng có thể đưa lên dàn dựng thành những vở Kịch múa được!

Trên thế giới, ballet ra đời khá sớm, từ thời kì Trung cổ, cuối thế kỉ 15 ở Italia đã xuất hiện vở ballet đầu tiên cho dù đó chỉ là một “vở diễn nội bộ” được dàn dựng trong một lễ cưới của Đại công tước thành Milan. Những màn múa mang tính chất dư hứng, sinh hoạt vui chơi những có kết cấu, bố cục khá hoàn chỉnh và được coi như một vở Ballet với những điệu nhảy phong phú hấp dẫn, là cơ sở cho nghệ thuật khiêu vũ và ngôn ngữ chất liệu múa ballet cổ điển sau này. Từ đó “con gà tức nhau tiếng gáy”, hình thức “ballet” này đã được nhiều lãnh chúa, quý tộc mượn thây, thời “dàn dựng” cho các “lễ hội” của gia tộc, gia đình mình! Và hình thức này được phát triển một cách “ngẫu hứng: rồi dần dần nhiều “thầy chuyên nghiệp” cùng các vũ công… đã đưa lên sân khấu “công diễn” các màn cảnh, vở múa được nhiều khán giả hưởng ứng, ái mộ. Thật ra lịch sử của nghệ thuật múa ballet cổ điển cũng không phải hoàn toàn như vậy mà đấy chỉ là một trong những sự kiện góp phần tạo nên sự ra đời của Kịch múa. Italia cũng là quốc gia đầu tiên trên thế giới xuất hiện Nhà hát Opera & Ballet nổi tiếng: Nhà hát La Scala ở thành phố Milan. Sau đó, Ballet được phát triển sang Pháp và Nga nhanh chóng trở thành hai trung tâm lớn của Ballet thế giới với sự ra đời của nhiều vở Ballet kinh điển như Ét mê ran đa, Đôn ki hô tê. Otello, Nguời kị sĩ Đồng Rutsxilan & Lutsmila, Giden… rồi bộ ba vở ballet kinh điển của nhạc sĩ P.Tchaicopsky: Hồ Thiên Nga, Người đẹp ngủ và Sen kun trích (Kẹp hạt dẻ) v.v…

Bước sang thế kỷ 20, Ballet được phát triển nhanh, mạnh hơn và rộng khắp trên nhiều nước ở các châu lục như Mỹ, Cuba, Brazil, Triều Tiên, Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước Đông Âu, Tây Âu nhất là từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II (1939-1945)

Ở nước ta Múa được ra đời rất sớm và khá phát triển nhát là ở các vùng, khu vực dân tộc thiểu số nhưng Nghệ thuật múa chuyên nghiệp thì lịch sử phát triển chưa tròn thế kỷ! Trên thực tế chúng ta cũng đã có những tổ chức múa bán chuyên nghiệp như đội múa Cung đình Huế; Đội xòe Thái của các quan tri châu, Phìa Tạo … vùng Tây Bắc, song đó chỉ là để phục vụ các dịp lễ hội Cung đình hoặc mua vui cho tầng lớp thượng lưu, quan chức theo thời vụ và các ngày lễ lạp, đối ngoại v.v…

Những đội múa chỉ mới được hình thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, phục vụ cho bộ đội, dân công và đồng bào trong vùng tự do, những diễn viên phần lớn là “Xam bán” kiêm nhiệm từ các nhạc công, ca sĩ hay diễn viên ca kịch dân tộc Tuồng, Chèo, cải lương… cho đến những năm 1950, sau chiến tranh biên giới, vùng tự do được mở rộng và nước ta có quan hệ ngoại giao với các nước Xã hội Chủ nghĩa (chủ yếu là Liên Xô, Trung Quốc) thì các Đòan Văn công (Ca múa); (Văn công tổng cục chính trị, văn công nhân dân TW, Văn công khu Tự Tây bắc, Việt Bắc và một số Đòan văn công Quân khu, tỉnh miền núi Tây – Việt Bắc …) chính thức được thành lập mới dần xuất hiện những các bộ, diễn viên gạo cội được cử đi tu nghiệp ở Trung Quốc để chuẩn bị lực lượng, đội ngũ cho tương lai của ngành Múa! Trong số lưu học sinh đó có những biên đạo sau này đã đóng góp cho sự phát triển nghệ thuật Kịch Múa Việt Nam như: cố NSND Thái Ly,  cố NSND Đoàn Long.

Năm 1959 Trường múa Việt Nam được thành lập, trước đó Bộ Văn hóa đã cho mời các chuyên gia Múa Triều tiên sang huấn luyện cho các nghệ sĩ, biên đạo trong nước dậy cơ bản, tập huấn biên đạo và dàn dựng nhiều tác phẩm Múa trong đó có 2 vở Kịch Múa: Ngọc lửa Nghệ tĩnh và Tấm Cám, trong dịp bế mạc lớp tập huấn và chào mừng 15 năm ngày Quốc khánh nước ta. Dưới sự chỉ đạo của chuyên gia Múa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên  Kim Tế Hoàng, cả hai Kịch Múa đều đã ra mắt thành công, được mang đi biểu diễn ở nhiều địa phương; Vở kịch múa Ngọn lửa Nghệ Tĩnh còn được đưa sang Trung Quốc biểu diễn sửa chữa, nâng cao và quay thành bộ phim múa đầu tiên của nước ta. Sau này cả 2 vở kịch múa này đều đã được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật – một sự kiện lớn lao vinh danh nghệ thuật Kịch Múa nước nhà. Cũng trong năm 1960 cố NSND Thái Ly đã dựng một thơ múa Chúc Thọ Bác Hồ (Hái hoa dâng Bác) cho học sinh khóa I Trường múa Việt Nam. Thơ múa kính dâng lên Bác Hồ nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày Sinh nhật Người.

Vở diễn được ra mắt tại thủ đô Hà Nội và sau đó đi lưu diễn tại Hải Phòng, Thanh Hóa… mang lại cho khán giả một bộ môn nghệ thuật hoàn toàn mới lạ. Cố NSND Thái Ly tiếp tục dựng vở Kịch Múa dài 3 màn Bả khó với sự tham gia của các thầy, cô Hoàng Điệp – Hồng Linh và Sa Kim Đóa, và các học sinh khóa I. Thành công của vở diễn đã đánh dấu một bước đi mới: Kịch Múa bất đầu phát triển ở Việt Nam và cố NSND Thái Ly là người đầu tiên của ngành múa Việt Nam được nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (Cho đến nay Hội Nghệ sĩ múa Việt Nam chỉ mới có được 3 Giải thưởng Hồ Chí Minh cho các NSND Thái Ly, NSND Lê Ngọc Canh và NSND Chu Thúy Quỳnh).

Những năm 60 của thế kỷ 20 Kịch Múa Việt Nam bắt đầu nở rộ. Một số đoàn Văn công cũng dựng Kịch Múa . Đoàn Công an nhân dân vũ trang (nay là Đoàn bộ đội biên phòng) dựng vở kịch múa Rừng Thương Núi Nhớ của cố NSND Trần Minh, Nhà hát Tuổi trẻ dựng Kịch Múa Thạch Sanh của cố NSND Đỗ Minh Tiến. Cố NSND Thái Ly dựng Kịch Múa Bà mẹ miền Nam cho Trường múa Việt Nam rồi dựng lại cho Đoàn ca múa miền Nam, Đoàn Ca múa nhân dân TW… Các Đoàn Lào Cai, Hòa Bình, Đoàn khu Việt Bắc (nay là Nhà hát Ca Múa Nhạc Dân gian Việt Bắc); Đoàn Ca Múa Thanh Hóa, Đoàn Ca Múa Hải Phòng… cũng dựng những vở kịch múa trong chương trình biểu diễn của đơn vị mình. Một số diễn viên, học sinh gạo cội của Đoàn văn công nhân dân TW, Trường múa Việt Nam được cử đi học biên đạo ở Liên Xô; một số nghệ sĩ, giáo viên Múa được cử đi học ở Triều Tiên khi về nước đã trở thành những biên đạo tài năng như NSND Trịnh Xuân Định, NSND Nguyễn Thị Hiển, NSND Đỗ Minh tiến, NSND Công Nhạc, các NSƯT Trần Đình Quỳ, Trần Phú, Lê Kim Tiến… đều chung tay góp sức, xây dựng và phát triển nền Kịch Múa Việt Nam. Trong đó, NSND Trịnh Xuân Định đã dựng nhiều vở kịch múa lớn như Chị Sứ, Cây đèn biển, Lửa hang treo v.v…

Một cảnh trong Kịch múa “Ngọn lửa Hà Thành”. Ảnh: Thanh Hoa

Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng 1975 Nghệ thuật Múa lại có điều kiện phát triển mạnh hơn. Nhà hát Nhạc Vũ kịch Việt nam – một đơn vị có chức năng chính là dàn dựng biểu diễn những tác phẩm kịch múa, Nhạc kịch (Opera & ballet) cũng đã dàn dựng các thơ múa, Kịch múa mới của các biên đạo cố NSND Đoàn Long, NSND Công Nhạc, NSUT Bằng Thịnh như “Giai điệu niềm tin”, “Huyền thoại mẹ”… bên cạnh đó dưới sự gúp đỡ của chuyên gia Múa Liên Xô Mikhain Kapxtanat đã dàn dựng được 4 vở ballet Cổ điển Châu Âu là “Cô tiểu thư và chàng du đãng”, “Giden”, “Spactac” và vở ballet đỉnh cao “Hồ Thiên Nga”. Sau chiến tranh biên giới 1979 các đoàn Quân khu I, Nhà hát Quân đội cũng đã dàn dựng một số vở kịch múa phản ánh đề tài nóng hổi như Giữa mùa hoa Lê (Cố NSƯT Kim Tiến), Cánh chim Biên giới (Cố NSND Đỗ Minh Tiến) v.v… Tuy nhiên,  sau những năm 1985, nước ta bước vào thời kì mới hội nhập với nền kinh tế thị trường, các đơn vị nghệ thuật “làm ăn” khó khăn hơn! Những hình thức, thể loại nghệ thuật lớn dường như chững lại vì thiếu thốn biên chế, vì kinh tế, đầu tư hạn hẹp v.v… nên ngay cả đơn vị chuyên nghiệp có chức năng dàn dựng, biểu diễn các tác phẩm Opera, ballet… cũng phải hạn chế sáng tác, dàn dựng tác phẩm lớn, đông người… và khán giả dường như cũng kém hào hứng trông đợi! Sân khấu múa dần bớt đi những tiết mục múa đông người, múa dân gian, dân tộc mà một số đơn vị “nhạy cảm” đã chuyển hướng sáng tác các thể loại múa ít người, hiện đại… Cũng may thời kì này không quá kéo dài, sau những năm 90, bước sang đầu thiên niên kỉ mới 2000 được sự quan tâm đúng hướng của Hội nghệ sĩ Múa Việt Nam, Kịch múa đã được phục hồi, Hội đã phát động các Cuộc thi viết kịch bản và hỗ trợ, đầu tư dàn dựng một số vở kịch múa lớn trong các dịp đại lễ và tổ chức cuộc thi các tác phẩm kịch múa với sự tham gia tích cực, có hiệu quả của Nhà hát Ca Múa Nhạc Quân đội, Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam, Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ Kịch TP. Hồ Chí Minh, Trường Văn hóa Nghệ thuật Quân đội… Một số biên đạo tốt nghiệp ở nước ngoài về như NSND Ứng Duy Thịnh, NSND Vũ Việt Cường, NSND Nguyễn Công Nhạc… cũng đã dàn dựng thành công nhiều vở Kịch múa lớn như “Ngọn lửa”, “Bông lau trắng”, “Đất nước”, “Đường ra chiến dịch”… (NSND Ứng Duy Thịnh); “Ngọc trai đỏ”, “Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga”… (NSND Vũ Việt Cường); “Bài ca người cộng sản” (Theo nội dung, chủ đề từ tập thơ Nhật kí trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh), “Ngọn lửa Hà Thành”… (Nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày Vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long – Hà Nội)… (của NSND Nguyễn Công Nhạc)… Kịch múa hồi sinh với nhiều tác phẩm đã được ghi dấu vào lịch sử của ngành Múa Việt Nam và Hội nghệ sĩ Múa Việt Nam vẫn tiếp tục hướng đi đúng đắn của mình, tổ chức nhiều lớp, trại sáng tác để động viên các tác giả viết kịch bản chuẩn bị cho các dịp đại lễ của đất nước, những người làm nghề chúng tôi luôn mong muốn ngành Múa Việt Nam sẽ luôn luôn phát triển mạnh mẽ để có được một vị trí xứng đáng trong sự nghiệp Văn học Nghệ thuật nước nhà!

Ballet “Hồ thiên nga”. Ảnh: T.L

Mặc dầu vậy, trước sự biến chuyển của xã hội trong thời kì hòa nhập hiện nay, KỊCH MÚA VIỆT NAM đang phải đứng trước những khó khăn, thử thách lớn: “Đầu tiên lẽ đương nhiên là Tiền đâu!”

Dựng một vở kịch múa, kinh phí không nhỏ mà các đơn vị dàn dựng kể cả những nhà hát chuyên ngành Nhạc Vũ Kịch Việt Nam và Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ Kịch TP. Hồ Chí Minh đều rất lo lắng chưa tìm được lối ra! Ý tưởng và nguyện vọng thì lớn nhưng hướng khắc phục, giải quyết không dễ… Nhiều công trình phải bỏ dở, gần đây cũng có vài vở kịch múa được dàn dựng nhưng phải dựa vào nguồn đầu, tài trợ của các tổ chức xã hội, doanh nhân v.v…

Nhiều diễn viên có tài năng là những solist, cũng đành phải rời bỏ sân khấu ballet để về các đơn vị khác, Trường Múa, Trường Văn hóa nghệ thuật… hoặc sang các đơn vị vũ đoàn, đoàn ca múa dân tộc, múa đương đại để được biểu diễn nhiều hơn vì “cuộc sống thường nhật”.

Một số cơ quan quản lí văn hóa (Trừ Hội nghệ sĩ Múa Việt Nam) cũng chưa thật quan tâm, chú ý đến sự nghiệp phát triển kịch múa; phải chăng vì nhiệm vụ chung quá lớn, khó quan tâm đến hết cả những bộ môn, những ngành nghề cụ thể của nghệ thuật biểu diễn nên chỉ có sự chỉ đạo chung chung, thậm chí những đơn vị, nhà hát đặc thù còn có lúc bị “báo động” phải chuẩn bị sẵn sàng để trở về là đơn vị “Tự chủ – Tự Thu – Tự chi”!

Những hạn chế đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp phát triển Kịch múa Việt Nam, vì vậy với góc độ một người làm công tác lí luận còn tâm huyết với nghề tôi xin mạnh dạn, kiến nghị đôi điều:

  1. Các cơ quan quản lí, chỉ đạo cần tìm hiểu đặc thù trong từng bộ môn, ngành nghề của nghệ thuật biểu diễn để có những chế độ, chính sách thích đáng, hợp lí, tạo điều kiện cho sự nghiệp phát triển Văn hóa nghệ thuật trong đó có bộ môn Kịch Múa.
  2. Quan tâm hơn nữa đến đời sống của các nghệ sĩ, diễn viên Múa – một nghề gian khổ, nặng nhọc mà tuổi thọ của nghề lại quá ngắn ngủi (không ít diễn viên tài năng đã phải sớm rời bỏ sân khấu mà họ đã đeo đuổi, đam mê từ nhỏ!)
  3. Lưu ý đến những dịp kỉ niệm, đại lễ của Đất nước để có hướng đầu tư tác phẩm kịch múa mới có thể chuyển tải được đầy đù nội dung, chủ đề và các tình tiết của sự kiện đó và tạo nên hiệu quả hoành tráng, sâu sắc cho đại lễ.

Trên đây là một vài suy nghĩ của tôi với mong muốn để có được một đóng góp nhỏ bé cho sự nghiệp phát triển Kịch múa Việt Nam.

Thái Phiên

About nguyen thanh hoa

Read All Posts By nguyen thanh hoa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *