- ĐÀO TẠO

Ngôn ngữ múa dân tộc một thành tố quan trọng hình thành nên tác phẩm Múa

Ngôn ngữ múa dân tộc
một thành tố quan trọng hình thành nên tác phẩm Múa
Mỗi một tác phẩm múa hoàn thiện được công chúng khán giả có trình độ  hiểu biết chân giá trị của múa khen ngợi. Điều đó có nghĩa là tác phẩm múa có tính Chân – Thiện – Mỹ và mang được hơi thở của hồn dân tộc. Ngôn ngữ múa dân tộc từ nhiều năm nay đang được những biên đạo có kinh nghiệm và có tay nghề cao của nước ta sử dụng một cách có tính toán trong các tác phẩm của mình. Những tác phẩm như:  “Katu”  (NSND Thái Ly – NSUT Ngân Quý), “Roong Chiêng” (Đinh Ngọc Minh – Hàn Đức Trọng), “Trống hội Cao Lan”
(NSND Lê Ngọc Canh), “Khúc biến tấu từ pho tượng cổ” (NSND Ứng Duy Thịnh), “Hoa Phong Lan trên đỉnh Truông Bồn” (NSND Nguyễn Thị Hiển), “Khát vọng” (NSND Đặng Hùng), “Mùa Ban nở” (NSND Đỗ Minh Tiến), “Men tình” (NSND Kim Chung – Quỳnh Dương) và nhiều tác phẩm múa dân tộc khác là những bông hoa tôn vinh vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng của dân tộc mà tác phẩm phản ánh. Tuy nhiên,  hiện nay có một số biên đạo có thể do chưa nắm được quy trình vận động của ngôn ngữ múa dân tộc nên thường mượn những chất liệu múa của tộc người khác  nhằm làm “phong phú” cho tác phẩm múa của mình. Việc chọn ngôn ngữ múa của dân tộc nào làm chủ đạo cho tác phẩm thì nên lấy nguyên bản của ngôn ngữ múa dân tộc đó làm nền tảng và từ  đó phát triển những ý, tứ trong câu múa, đoạn múa sao cho thành một thể thống nhất . Có như vậy mới tạo ra được tác phẩm múa đích thực có hồn và mang tính khách quan.
Mỗi một dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều có tính cách riêng bởi họ sống trong hoàn cảnh địa lý, khí hậu, trình độ canh tác, sản xuất, nền văn hóa, thói quen sinh hoạt cũng như tâm sinh lý khác nhau. Điều đó hình thành nên tính cách và bản sắc văn hóa của từng dân tộc. Vì vậy múa của dân tộc Ka Tu không thể đánh đồng với bước nhảy của người H’Mông hay bước nhún của người Thái Tây Bắc không thể là bước nhún của dân tộc Chăm ở Bình Thuận. Trên thực tế qua các kì hội diễn không ít các biên đạo đã áp đặt tư duy chủ quan của mình vào tác phẩm múa của dân tộc khác vì thế tác phẩm của họ thường chịu sự đánh giá không cao của ban giám khảo. Về nội dung tác phẩm thì từ lâu trên sân khấu múa đã có một lối suy nghĩ trở thành sự áp đặt không đúng với thực tế của dân tộc. Ví như cứ múa của người H’Mông là có hình ảnh của những chàng trai H’Mông say rượu. Trên thực tế ở một số vùng người H’Mông những chàng trai khi trong lao động hoặc sinh hoạt, khi vui với bè bạn lâu ngày mới gặp hoặc tiếp nhau trong lúc mới làm quen thì các chàng trai người H’Mông có uống rượu. Thậm chí trên đường “xuống chợ” họ cũng uống đôi ba bát rượu ngô tự sản tự tiêu. Song không vì thế chúng ta liên tưởng và “hình sự hóa”  việc uống rượu trở thành điều xấu khiến hình ảnh người thanh niên dân tộc H’Mông trở nên méo mó trong tác phẩm của mình. Việc kết cấu nên tác phẩm múa cũng không ít tác giả còn theo lối chủ quan sắp xếp những mảng miếng theo cách thức “có sao nói vậy”. Điều đó nhiều khi chỉ là những mảnh ghép không thuận mắt hoặc thiếu tính logic của văn học. Trong lĩnh vực thi ca, yếu tố ngữ nghĩa kèm với vần điệu đã hình thành nên tác phẩm thơ. Tuy nhiên, sự ghép vần trong câu chữ, trong thơ lại phụ thuộc vào ý tứ chuẩn mực của phác đồ sáng tạo của thi sĩ chứ không chỉ đơn giản là sự ghép từ ngữ cho có vần điệu. Các đồng nghiệp thử nghĩ xem nếu chúng ta so sánh trong nghệ thuật thi ca thì việc ghép từ như thế này có còn là thơ không nhé? Một hôm ở một góc phố nhỏ tôi tình cờ được nghe các cháu (khoảng ba bốn tuổi ) hát rằng: “Chuồn chuồn bay thấp bay cao, bay cao thì thấp, bay vào bay ra. Chuồn chuồn bay bổng, bay la. Cứ bay bay mãi thế là bay luôn”. Tôi nghe và bật cười bởi từ miệng con trẻ chưa hiểu biết hết lời của câu đồng dao kia đã vội “Sáng tạo” theo kiểu ghép vần đến ngây ngô về ý tứ như thế. Bất giác tôi liên tưởng tới một vài tác phẩm múa của chúng ta đôi khi vẫn còn có những sự ghép vần khá vô ý thức như các cháu ở lứa tuổi hồn nhiên trên.
So sánh với các loại hình nghệ thuật khác như Kiến trúc, ta thấy một công trình kiến trúc đươc hình thành bởi những đường nét, khối, mảng được tác giả sắp xếp một cách hợp lý nhưng điều tiên quyết vẫn là hồn dân tộc trong ngôn ngữ kiến trúc. Một bản nhạc hay là bản nhạc mà người nhạc sĩ đã dùng những ngôn ngữ âm thanh  mang đặc trưng của dân tộc kết hợp với nội dung biểu đạt sâu sắc. Như vậy ngôn ngữ của các tác phẩm Kiến trúc cũng như ngôn ngữ của các tác phẩm Âm nhạc đã góp phần lớn trong sự hình thành những tác phẩm hay và có giá trị đích thực trong cuộc sống.
Nghệ thuật múa ngày nay đã và đang phát triển trong lĩnh vực sáng tạo. Nhìn ra thế giới, chúng ta ngày nay không chỉ có những vở kịch múa kinh điển truyền tụng từ thế kỉ XIV mà chúng ta còn phải nhìn nhận cả những vở diễn mang màu sắc đương đại với những ngôn ngữ hình thể đa dạng mà các vũ công đã khổ công luyện tập.
Nghệ thuật múa Việt Nam trong hơn nửa thế kỉ qua đã phát triển cả về chất lượng và số lượng. Hầu như những dân tộc ít người hay những dân tộc đa số đều có ngôn ngữ múa riêng. Cái riêng đó là bản sắc của dân tộc trong quá trình phát triển. Vì thế các biên đạo ngày nay cần thật tỉnh táo để nắm bắt một cách sâu rộng vốn múa dân tộc. Từ đó khai thông những hình ảnh sẽ xây dưng thành tác phẩm múa của riêng mình. Chúng ta cũng cần nên tiết kiệm ngôn ngữ múa dân gian dân tộc trong tác phẩm múa vì đã có trường hợp người biên đạo sau khi sưu tầm được nhiều động tác múa dân tộc trong dân gian đã dùng tất cả số vốn động tác đã có trong kho ngôn ngữ múa mình sưu tầm được và đưa nguyên cả cụm vào tác phẩm. Việc làm đó rõ ràng là lãng phí chất liệu múa một cách vô bổ chẳng khác nào người đầu bếp vụng đã đưa tất cả những  rau, củ, quả vào trong một nồi canh khiến cho không rõ món mình nấu thuộc loại canh hay lẩu! Thời gian tôi học biên đạo múa ở Liên Xô cũ, các giáo sư hướng dẫn chỉ cho phép chúng tôi được sử dụng tối đa 5 hoặc 6 động tác múa dân tộc để làm thành một tác phẩm múa. Dần dần chúng tôi tự biết cách chế ra những động tác múa mang cùng một bản sắc để làm thành tác phẩm múa đa dạng về nội dung và phong phú về ngôn ngữ. Các giáo sư đã khen ngợi và động viên chúng tôi về sự mạnh dạn sáng tạo ngôn ngữ múa.Với cách tư duy và thực hành khoa học đó sau này đã giúp tôi xây dựng nên những tác phẩm múa có chất lượng trong suốt những năm tháng cuộc đời làm biên đạo.
Cố NSND Thái Ly cũng là một biên đạo có ý thức tiết kiệm ngôn ngữ múa dân gian dân tộc. Lúc sinh thời ông thường tâm sự: “Làm nghệ thuật biên đạo cần phải biết dè sẻn ngôn ngữ múa ”. Ông thường dẫn chứng với tác phẩm múa “  Ka Tu” mà ở đó ông đã sử dụng khoảng 3 bước nhảy trong đó có động tác nhảy nhích, nhảy trượt và nhảy nhanh nhỏ để tạo thành những bước nhảy di chuyển đội hình. Cái hay của tác phẩm múa đó không phải chỉ ở sự liên kết những bước nhảy mà giá trị của tác phẩm múa “Ka Tu” chính là ở chỗ ông đã sáng tạo ra những khoảng lặng sau những động tác nhanh nhỏ rất hiệu quả với âm nhạc. Điểm dừng của các cô gái cùng ngồi sụp xuống trong vài giây lắng đọng âm nhạc ấy đã khiến khán giả phải vỗ tay tán thưởng…  Đó chính là sự  “cao tay ấn” của biên đạo lừng danh Thái Ly khi ông xử lý thật hợp lý cả về tình tiết tâm lý của các cô gái lẫn hiệu quả sân khấu mà tác phẩm mang tới cho người xem. Thủ pháp nghệ thuật trong tác phẩm múa “ Ka Tu” đã giúp cho tác phẩm thành công mặc dù tác giả rất tiết kiệm ngôn ngữ múa. Cũng như thế Múa tình tiết “Khoảnh khắc đêm hè” của tác giả Bá Thái cũng từng được  đánh giá cao. Cái bất ngờ khiến cho khán giả phải bật cười là cách xử lý ngôn ngữ của hai nhân vật tượng trưng cho hình ảnh của Chí Phèo và Thị Nở, và đăc biệt ở cú décor  dừng đắt giá khi tay của anh Chí vô tình va chạm vào bộ ngực của cô Thị Nở. Tác giả  đã cố ý nhấn mạnh hình ảnh hài hước đó tới bốn giây ngưng đọng và khi khán giả chỉ kịp nhận ra cái mặt của nàng Thị Nở đờ ra và chỉ có đôi tròng mắt mở to hết cỡ để liếc ngang xem anh Chí giờ này đang ở đâu… Đây là phút thăng hoa của diễn viên Lan Phương biểu diễn xuất thần và cô thật xứng đáng với bằng khen diễn viên xuất sắc trong vai diễn tính cách mà Hội diễn lần ấy tặng thưởng.
Tóm lại, muốn có tác phẩm hay đi vào lòng người, Biên đạo múa nhất thiết phải có vốn sống thực tế sâu rộng, có khả năng biên soạn và kết cấu trình thức múa và phải  hiểu sâu về ngôn ngữ múa dân tộc mà mình sử dụng trong tác phẩm. Đặc biệt, sự sáng tạo trong tác  phẩm mà ngôn ngữ múa dân tộc là thành tố chính không thể thiếu.
NGƯT Bá Thái

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *