- BIỂU DIỄN

NHỚ MÙA XUÂN 1961

NHỚ MÙA XUÂN 1961

NSƯT HIỀN MINH

          Ba giờ sáng một ngày giáp Tết Tân Sửu (1961), chiếc xe tải Liên Xô che bạt kín bịt bùng đưa đoàn cán bộ văn hóa, văn nghệ chúng tôi lên đường đi vào chiến trường miền Nam. Đoàn có 6 người, trong đó có tôi là biên đạo múa, 2 cán bộ âm nhạc ở Đoàn Văn công Liên khu 5 và Đoàn Văn công Tây Nguyên cùng với 3 cán bộ kỹ thuật ngành in ở nhà máy in Tiến Bộ, Hà Nội. Tất cả đều là người miền Nam trở về xây dựng phong trào văn nghệ cách mạng và xây dựng ngành in giải phóng miền Nam.

Xe qua cầu Long Biên,  qua ga Hàng Cỏ, công viên Thống Nhất tiến về Nam, mang theo tâm trạng lưu luyến bồi hồi của người đi xa Hà Nội, xa nơi đầy ắp những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ, nơi có bạn bè, người thân, có những chiều Hồ Tây, những đêm mưa dắt tay nhau chạy trên đường phố. Hà Nội đang chìm trong giấc ngủ. Đêm cuối năm, mưa giăng và lạnh buốt. Không một cái bắt tay, không một lời tiễn biệt. Xa Hà Nội rồi, không biết bao giờ trở lại.

Tối mồng một Tết năm đó (1961), lợi dụng lúc địch sơ hở nhất, từ trạm giao liên thượng nguồn sông Bến Hải chúng tôi vượt qua sông bắt đầu cuộc hành quân đầy hy sinh gian khổ trên con đường chiến đấu của cách mạng miền Nam.

Đêm vượt qua sông là một đêm gió mưa tầm tã. Trời tối đen như mực. Chúng tôi đi trong rừng sâu, cứ nhìn bóng người lờ mờ phía trước mà lần theo. Ba lô, súng đạn, đôi dép lốp cao su mang trên vai, chúng tôi với hai bàn chân trần đạp lên gai góc, đá tai mèo chạy bám theo giao liên, để không bị lạc ở giữa rừng. Nói là đường giao liên nhưng chưa có đường. Chúng tôi cắt rừng mà đi, tránh xa những con đường mòn, lội theo suối, trèo lên thác đá bằng thang dây, theo con đường của voi đi ở những nơi rừng sâu, núi cao, không để lại một hạt cơm rơi,  một dấu vết lạ trên đường. Cứ như thế chúng tôi đi cả ngày lẫn đêm, dù đói khát, đau yếu đến mấy cũng phải vươn tới, cố vượt thật nhanh qua khỏi vùng giới tuyến và vượt qua đường số 9, con đường chiến lược từ Quảng Trị sang Lào. Đây là hai nơi địch tập trung lực lượng quyết ngăn chận sự chi viện của ta từ miền Bắc vào Nam. Vậy mà đến trạm giao liên phía bắc đường 9, cũng phải dừng lại khá lâu vì có thuyền của địch giả dạng người đánh cá  trên sông Thạch Hãn suốt ngày đêm để phát hiện đường dây giao liên của ta.

Trạm giao liên Bắc đường 9 là một cái nhà sàn nhỏ, cũ kỹ của đồng bào dân tộc bỏ lại trên đỉnh núi cao suốt ngày mây phủ. Hàng ngày cứ đến 3 giờ chiều chúng tôi luồn rừng ra ngồi chờ vượt đường ở trong lòng con suối nhỏ có cây cối um tùm, suối chảy luồn qua cái cống bi sâu hun hút phía dưới đường 9, sang phía bên kia đổ vào sông Thạch Hãn. Chúng tôi mang ba lô ngồi ngâm chân trong nước dưới trời mưa gió rét run người mà không dám để bật ra một tiếng ho, một tiếng động nhỏ. Phía trên đường xe của địch lên xuống ầm ĩ không ngớt. Một giờ sáng giao liên quay lại báo vẫn còn địch. Anh em lại bám nhau, lần mò trong rừng tối trở về trạm.

Những ngày nằm chờ ở trạm giao liên mới thấm thía hết nỗi gian nan, vất vả không kể xiết trên con đường đã đi qua. Hơn mười ngày băng rừng, vượt núi với hai bàn chân trần (không được mang dép vì sợ để lại dấu dép sẽ lộ đường dây) nên chân ai cũng bị gai cào, đá tai mèo cứa nát, sên vắt bu vào hút máu, nhiễm trùng sưng tấy đau nhức.  Hai bàn chân của tôi, bàn chân của một diễn viên múa chuyên nghiệp giờ đây cũng bị rách, máu tứa ra, sưng đỏ lên nóng như lửa đốt, người cứ sốt hầm hập.

Nhưng khổ nhất vẫn là cái đói. Với sức trẻ của tuổi hai mươi, từng nổi tiếng là ăn như múa. Giờ đây suốt ngày băng rừng, vượt núi với ba lô súng đạn nặng trĩu trên vai mà mỗi bữa ăn chỉ có hai lưng bát cơm nát, lẫn với mọt được nấu bằng những hạt gạo đỏ của đòng bào dân tộc cất giấu trong rừng từ trước ngày ta tập kết ra Bắc. Ngày nghỉ còn kiếm rau rừng ăn thêm. Ngày hành quân lên dốc là run chân, hoa mắt, cái đói hành hạ suốt ngày đêm, sức khỏe cạn kiệt. Nhiều người sốt rét, đau yếu vẫn cố chống gậy theo đoàn. Anh em giúp đỡ dìu nhau đi không để ai phải nằm lại dọc đường.

Một đêm chờ thông đường, chúng tôi cột võng dưới sàn nhà của trạm, nằm ép vào nhau cho ấm. Trên trạm, các đồng chí giao liên báo tin vui đã nhận được quà Tết của miền Bắc gởi vào, có mứt kẹo Hà Nội, trà Hồng Đào, thuốc lá Điện Biên, mời Đoàn cán bộ lên liên hoan. Chúng tôi rất xúc động, nhưng  đều từ chối xin để các anh được hưởng trọn vẹn món quà tết của Đảng, của Bác, của nhân dân miền Bắc gởi cho giao liên miền Nam. Nó quí giá đối với các đồng chí biết chừng nào trong hoàn cảnh sống, chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ ở chiến trường miền Nam.

Ngoài trời mưa gió vần vũ, quất vào cây rừng xào xạc. Trên chiếc võng ka – ki mỏng manh, lạnh buốt như nước, nằm lắng nghe tiếng Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam phát ra nho nhỏ từ chiếc trasistor cũ kỹ của Trạm vọng xuống tôi lại nhớ da diết những cái tết ở miền Bắc, nhớ bánh chưng, hoa đào Hà Nội, nhớ bạn bè, người thân, nhớ về miền Nam.

Bắt đầu buổi phát thanh ca nhạc một giai điệu quen thuộc cất lên, tôi nhỏm dậy lắng nghe. Thôi đúng rồi, nhạc vũ kịch Ngọn lửa Nghệ Tĩnh, trời ơi, nhạc.!!  Sung sướng, xúc động, nghẹn ngào,  ngồi trên chiếc võng lặng im mà ngỡ như mình đang trôi nổi bồng bềnh, bay theo tiếng nhạc trong ánh hào quang rực rỡ của những ngọn đèn màu trên sân khấu Thủ Đô hôm nào. Vũ kịch Ngọn lửa Nghệ Tĩnh đây rồi! Trong những ngày hành quân gian khổ trên con đường vào Nam tôi luôn nhớ về nó, như nhớ về mối tình đầu yêu thương sâu nặng và rất đỗi tự hào mà mình đã đổ bao nhiêu mồ hôi, tâm huyết cùng với tập thể ngành múa Quân đội xây dựng nên rồi lại phải chia xa. Thật không ngờ, đêm nay ở cái trạm giao liên heo hút giữa núi rừng Quảng Trị dày đặc đồn bót của kẻ thù này lại được nghe bản nhạc đã ngấm vào tôi theo từng cảm xúc, từng động tác suốt mấy tháng trên sàn tập và trên sân khấu biểu diễn. Có phải vũ kịch đã đi cùng với diễn viên vào chiến trường giúp tôi vượt qua muôn vàn gian khổ trên con đường hành quân và cho tôi những phút giây gặp gỡ đầy xúc động trong đêm nay! Không biết giờ này Đoàn Vũ kịch “Ngọn lủa Nghệ Tĩnh” đang biểu diễn ở đâu?!

Buổi phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam đã hết từ lâu. Tiếng chim Từ Qui gọi bạn đã tới gần. Gà rừng đã gáy sáng bên kia suối mà tôi còn thao thức mãi với bao nhiêu kỷ niệm về những ngày xây dựng và biểu diễn vũ kịch Ngọn lửa Nghệ Tĩnh ở Hà Nội.

Lần đầu tiên xây dựng vũ kịch lớn ở Việt Nam có hàng trăm diễn viên múa ở  các Đoàn: Văn công Tổng cục Chính trị, Văn công các Quân khu các Sư đoàn tham gia biểu diễn, cùng với dàn nhạc và dàn hợp xướng của văn công Quân đội dưới sự chỉ đạo của chuyên gia Triều Tiên Kim Tế Hoàng. Vũ kịch có hai nhân vật chính là Quí và Nga. Tôi đóng vai Quí và Thanh Nga – nữ diễn viên múa của Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị đóng vai Nga. Đêm biểu diễn đầu tiên phục vụ khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (5/9/1960) tại Nhà hát lớn Hà Nội. Khi kết thúc, chúng tôi ra sân khấu chào khán giả trong tiếng vỗ tay vang động cả hội trường. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, Trưởng đoàn các Đoàn đại biểu Đảng các nước lên sân khấu tặng hoa chúc mừng. Nữ đồng chí Trưởng đoàn Đoàn đại biểu Đảng Cộng Sản Liên Xô xúc động ôm hôn tôi thắm thiết. Khi vào phòng hóa trang nhìn qua gương thấy vết son môi của đồng chí in đỏ thắm trên má mà xúc động, bồi hồi không biết làm sao giữ được mãi vết son ấy cho mình. Đêm nay nằm trên võng bất giác tôi sờ tay lên má giữa đêm đen lạnh giá trên núi rừng Quảng Trị mà nụ hôn của nữ đồng chí Phó Chủ tịch Đảng Cộng Sản Liên Xô ngày ấy dường như vẫn còn nóng ấm và tươi đỏ như xưa.

Hơn một tuần giăng bẫy trên sông không phát hiện được gì bọn địch kéo thuyền đi nơi khác. Đêm đó, chúng tôi bí mật lần theo con suối nhỏ, bò qua cái cống bi tối đen sang bên kia đường 9, đến bờ sông Thạch Hãn. Đang mùa lũ nước sông lên cao, đập vào ghềnh đá ào ạt. Trăng tháng giêng chiếu qua màn mưa mờ đục khiến dòng sông trong đêm thêm huyền ảo và rộng mênh mang. Chúng tôi gói ba lô, quần áo và khẩu súng ngắn vào ni lông rồi dìu nhau qua sông. Vốn không biết bơi, tôi cứ ôm chặt bọc ni lông để giao liên đẩy đi. Cái lạnh ở dưới nước trong đêm khuya  giữa rừng núi, nhức nhối như dao cắt vào da thịt. Tôi bị dòng nước cuốn trôi đi một đoạn khá xa, vừa đặt chân lên bờ giao liên đã giục chạy, hai chân tê cứng ríu lại, người run cầm cập, cứ tồng ngồng như thế vác ba lô chạy lao vào rừng. Đêm đó chúng tôi đi luôn tới sáng và đi cả ngày hôm sau mới tới chỗ nghỉ.

Đường đi qua Quảng Trị vô cùng gian nan vất vả, nhưng đến đất Thừa Thiên và đi dần về phía Nam đã bớt khó khăn hơn. Nhiều làng đồng bào dân tộc vùng cao đã được giải phóng. Vì sống trong vùng kìm kẹp của chính quyền Ngô Đình Diệm lâu ngày nên đời sống của đồng bào hết sức cực khổ nhiều nơi phải mặc vỏ cây và ăn tro tranh thay muối.

Một buổi chiều đang đi trong rừng sâu trên miền Tây tỉnh Thừa Thiên chúng tôi gặp mấy người đồng bào dân tộc đang đợi ở đầu dốc để chào đón bộ đội cụ Hồ trở về. Họ nắm tay chúng tôi vui mừng, xúc động và nói rằng bộ đội về mau đánh đuổi hết bọn Mỹ, Diệm, giải phóng buôn làng cho đồng bào bớt khổ. Quà của đồng bào mang tới tặng cho bộ đội là một nải chuối chín và mấy khúc củ mì. Giữa buổi chiều mưa, trong rừng già lạnh buốt mà trên người các chị chỉ có cái áo, cái váy rách bươm, trên người các anh cũng chỉ có mỗi cái khố. Để tỏ nỗi vui mừng chào đón bộ đội cụ Hồ trở về, bà con nắm tay nhau múa hát. Những bài ca, điệu múa truyền thống của đồng bào dân tộc Vân Kiều trong các ngày lễ hội. Đó cũng là lần đầu tiên chúng tôi gặp được đồng bào mình kể từ ngày trở về miền Nam.

Chia tay đồng bào Vân Kiều, chúng tôi tiếp tục hành quân qua Thừa Thiên, qua Quảng Nam, Quảng Ngãi, qua Tây Nguyên…, qua biết bao nhiêu núi cao, sông sâu. Mùa xuân đã tới, nắng lên ấm áp, hoa rừng nở khắp nơi. Từ đó, chúng tôi dấn bước vào cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam đánh đổ chế độ độc tài gia đình trị tàn bạo của Ngô Đình Diệm và bọn can thiệp Mỹ, chung tay xây dựng phong trào văn nghệ cách mạng ở miền Nam.

Trên con đường kháng chiến, dù phải trải qua những năm tháng đói cơm, lạt muối, dù phải hy sinh xương máu trên chiến trường, nhưng những người Nghệ sĩ là Chiến sĩ ở nơi tiền tuyến, chúng tôi vẫn vững bước đi lên, đem hết nghị lực và sức sáng tạo của mình cùng với các đoàn Văn công giải phóng đi khắp các chiến trường mang lời ca, tiếng hát, điệu múa của cách mạng, động viên, cổ vũ quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cho đến ngày đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Tết Đinh Dậu và mùa xuân 2017 đã đến. Tết đến, xuân về mang theo nỗi nhớ những mùa xuân đã qua. Tôi nhớ mãi mùa xuân năm Tân Sửu – 1961 của thế kỷ trước. Mùa xuân chúng tôi lên đường đi vào cuộc chiến đấu đầy hy sinh gian khổ của cách mạng miền Nam.

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, mỗi khi nhớ về mùa xuân ấy lòng tôi vẫn trào dâng xúc động bồi hồi, bởi đó là mùa xuân có nhiều kỷ niệm sâu sắc của đời tôi không thể nào quên.

TPHCM – Xuân Đinh Dậu – 2017

– ¯ —

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *