- ĐÀO TẠO

Đào tạo múa ở TP HCM

 ĐÀO TẠO MÚA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VÀ CÁC TỈNH PHÍA NAM ĐÁP ỨNG NHU CẦU PHÁT TRIỂN

Th.sỹ Trương Đức Cường

Ba mươi năm thực hiện cơ chế đổi mới cũng đủ thời gian để khẳng định độ chín chắn cho sự phát triển một ngành đào tạo được coi là đặc thù theo cơ chế thị trường. Ngành Múa vượt lên từ gian khó, xuất phát điểm“từ không tới có”, vừa thu nạp đội ngũ giáo viên, khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị phương tiện đào tạo. Song với phương châm vừa làm vừa rút kinh nghiệm, đã tích lũy được truyền thống quí báu cho công tác đào tạo múa. Những năm qua tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và Nam bộ (gọi tắt là khu vực phía Nam) đã đào tạo được hàng ngàn nghệ sỹ, diễn viên múa cho thành phố và các tỉnh phía Nam và đã khẳng định được “Thương hiệu” cho đào tạo múa ở Việt Nam. Sự thay đổi căn bản toàn diện về “chất” trong cơ chế mới một mặt tạo cơ hội cho sự hoàn thiện, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện về đào tạo nghệ thuật múa, đồng thời cũng là những thách thức không nhỏ. Để phù hợp với cơ chế thị trường thì rất cần có hệ thống giải pháp mang tính đột phá là một yêu cầu cấp bách, góp phần đóng góp cho sự phát triển chung của nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật.

Đặt vấn đề

Được hình thành từ một cơ sở đào tạo đa ngành thuộc Trường Văn hóa – Văn nghệ thuộc Trung ương Cục miền Nam, qua quá trình phát triển, các cơ sở đào tạo Văn hóa, nghệ thuật (VHNT) có đào tạo múa được hình thành. Trường múa TP Hồ Chí Minh trở thành con chim đầu đàn của ngành múa cũng đã được thành lập tháng 9/1986. Thời gian mới hình thành, chỉ là cơ sở đào tạo múa rất khiêm nhường, phải thuê sàn tập, thuê phòng học, tìm kiếm cộng tác viên… Những lớp múa ngắn hạn đầu tiên được đào tạo từ 6 tháng đến 1 năm (1965 – 1966), rồi 1 – 2 năm (1967). Sau đó, có những lớp trung cấp hệ 2 – 3 năm (1975) đã làm trọn được sứ mệnh, góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đến 1986 do có trường chuyên nghiệp thì hệ đào tạo chính qui hệ 2 năm, 3 năm và 7 năm được tiếp nối. Từ 2006 trở đi thực hiện theo Nghị định số 75/2006 NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính phủ và quyết định số 40/2007 QĐ-BGDĐT của Bộ GD&ĐT, các cơ sở đào tạo đã hoàn thiện chương trình đào tạo các hệ: 2 năm, 4 năm và 6 năm. Qui mô tuyển sinh hàng năm của khu vực phía Nam từ 200 – 250 học sinh. Số học sinh được đào tạo đã trở về địa phương bổ sung cho các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp của thành phố và các tỉnh, các thiết chế văn hóa và các vũ đoàn.

Thời kỳ đổi mới 1986 do thay đổi cơ chế quản lý, xóa bỏ kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện cơ chế tự chủ, cơ sở đào tạo trở thành đơn vị sự nghiệp có thu, nhiệm vụ đào tạo cũng được mở rộng về qui mô và loại hình đào tạo. Được vận dụng, bổ sung 20% phần chuyên môn cho phù hợp với vùng miền, tự cân đối kinh phí, xây dựng kế hoạch chỉ tiêu đào tạo hàng năm, chịu trách nhiệm quản lý đầu vào, đầu ra và thực hiện theo khung chương trình của Bộ GD&ĐT, Bộ VHTT&DL về mục tiêu, nội dung, chương trình đối với từng hệ đào tạo. Thuận lợi ít, khó khăn nhiều, đơn vị đào tạo có tính chuyên biệt thuộc lĩnh vực VHNT và trường múa phải bình đẳng đứng trước thương trường như các đơn vị đào tạo ngành nghề khác. Trong khi đó thị trường đòi hỏi chất lượng diễn viên múa lại rất khắt khe vì đầu ra của hệ 6 năm khác với 4 năm và 2 năm. Phải lấy ngắn nuôi dài, Trường múa TP Hồ Chí Minh vẫn cần phải có những hệ đào tạo đỉnh cao (diễn viên kịch múa hệ 6 năm), diễn viên múa dân gian dân tộc hệ 4 năm ngoài trường múa thì các trường VHNT khu vực phía Nam đã đào tạo, cung cấp diễn viên cho các đơn vị nghệ thuật. Song cũng vẫn cần đào tạo diễn viên hệ 2 năm cho các vũ đoàn và các đơn vị tổ chức sự kiện phù hợp với thị trường và nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực của thành phố và các tỉnh.

Bài toán dành cho nhà quản lý, cần phải có những kế sách thực hiện chiến lược đào tạo dài hạn, đồng thời phải có sách lược đảm bảo hài hòa giữa đào tạo dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, để vừa giữ qui mô đào tạo, đảm bảo chất lượng để giữ được qui mô và “thương hiệu” nhưng vẫn phù hợp với cơ chế mới. Các nhà trường xây dựng tầm nhìn chiến lược phát triển cho đào tạo múa giai đoạn 2015-2020 tầm nhìn đến năm 2030, mở ra cho ngành múa hướng đi mới, đòi hỏi tính qui chuẩn, đồng bộ, thiết thực và hiệu quả.

Đào tạo múa là hoạt động truyền thụ kiến thức, huấn luyện kỹ năng, kỹ sảo để người học nhận thức được cái hay cái đẹp trong sự vận động của cơ thể thông qua cảm xúc kết hợp với âm nhạc làm phương tiện phản ánh qua yếu tố biểu diễn. Quá trình giáo dục đó, giúp người học chiếm lĩnh được một năng lực nghề nghiệp liên quan đến những mặt của đời sống xã hội, được tổ chức và quản lý với nhiều cấp độ khác nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích và các mục tiêu đào tạo phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tổ chức cũng như của xã hội.

Thực trạng đào tạo múa ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận

Những năm trước đổi mới (1986), khu vực phía Nam có trên 30 đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp chỉ có duy nhất một vài cơ sở đào tạo múa chuyên nghiệp, cung cấp cho các đơn vị nghệ thuật là Trường VHNT Gia Lai, Trường VHNT Đồng Nai, Trường VHNT Cần Thơ và Trường múa TP Hồ Chí Minh. Với tính chất đặc thù trong công tác đào tạo diễn viên chuyên nghiệp theo qui trình nghiêm ngặt, công tác tuyển chọn kỹ lưỡng, được nhà nước bao cấp hoàn toàn. Chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm hạn chế nên cơ sở đào tạo không thể đáp ứng được với nhu cầu sử dụng của các đơn vị nghệ thuật. Cho nên ở địa phương, nhiều đơn vị nghệ thuật phải tự đào tạo diễn viên tại chỗ dẫn đến chất lượng diễn viên không đồng đều, thiếu cơ bản, kỹ thuật kỹ sảo, trở thành thợ múa vì đã được truyền nghề. Trong thời điểm này, phương tiện thông tin đa chức năng chưa phát triển, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân vẫn còn vô cùng thiếu thốn nên các chương trình biểu diễn của các đơn vị nghệ thuật được nhân dân đón nhận một cách nồng hậu, nhiệt thành. Ước mơ để trở thành diễn viên múa chuyên nghiệp là điều khó có thể thực hiện được ở thế hệ trẻ thời đó. Khi cơ sở đào tạo đến các địa phương tuyển sinh, học sinh đến dự tuyển đông như hội, ai trúng tuyển trở thành niềm tự hào của gia đình, dòng họ và địa phương, vì cái nghề được cả xã hội trân trọng và tôn vinh.

Sau đổi mới, cơ chế thị trường đã làm thay đổi toàn diện mọi mặt đời sống xã hội, chưa bao giờ, công chúng được lựa chọn những sản phẩm tinh thần dễ như ngày nay, chỉ cần đầu tư thiết bị nghe nhìn thậm chí sử dụng điện thoại di động hiện đại có thể đáp ứng ngay được nhu cầu giải trí trong mọi tình huống. Ở TP Hồ Chí Minh có 05 đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp, 51 Vũ đoàn và trên 80 trung tâm giải trí và tổ chức sự kiện ra đời, nhu cầu đào tạo diễn viên ngắn hạn đòi hỏi cấp bách. Để điều hòa được giữa cung – cầu thì việc đào tạo diễn viên ngắn hạn đã xuất hiện ở thành phố.

Xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, các cơ sở đào tạo VHNT trở thành đơn vị sự nghiệp có thu, nhiệm vụ đào tạo được mở rộng về qui mô và loại hình đào tạo. Thay đổi tư duy quản lý đào tạo bằng việc mở trường mở lớp, đáp ứng với thị trường và nhu cầu xã hội, nhiều cơ sở đào tạo mới được thành lập. Ở TP Hồ Chí Minh có 18 trung tâm, 21 nhà thiếu nhi có đào tạo múa ngắn hạn. Các tỉnh lân cận có 04 trường VHNT gồm: Đồng Nai, Bình Dương, Bến Tre, Cần Thơ có đào tạo múa. Từ cơ chế mới đó, các cơ sở đào tạo được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về đào tạo, cân đối kinh phí, xây dựng chỉ tiêu đào tạo hàng năm, chịu trách nhiệm đầu vào và đầu ra, đảm bảo theo khung chương trình của Bộ GD&ĐT, Bộ VHTT&DL qui định đối với cấp học, bậc học. Một số đơn vị có đào tạo múa, nhưng đào tạo chuyên sâu thì chỉ có Trường Trung cấp múa TP Hồ Chí Minh, con chim đầu đàn của ngành múa khu vực phía Nam đưa ra những cái “chuẩn” trong đào tạo, định hướng những chuẩn mực về ngành nghề. Nhưng từ việc tự chủ như đã nêu trên, chất lượng đầu ra của các cơ sở đào tạo có sự chênh lệch khá lớn, cùng bậc trung cấp thời gian đào tạo như nhau nhưng chất lượng rất khác nhau giữa cơ sở đào tạo, nếu so sánh chất lượng của trường múa TP Hồ Chí Minh và các địa phương thì khoảng cách còn xa hơn nhiều.

Thời mở cửa, người học được chọn trường theo khả năng tài chính gia đình với sự mở rộng về qui mô, hình thức đào tạo, một thời gian dài nhiều cơ sở đào tạo tăng nhanh về qui mô tuyển sinh, trong khi cơ sở vật chất cho đào tạo múa không đơn giản chỉ là phòng học bình thường mà phải là sàn tập, đầu tư cho một sàn tập có diện tích tối thiểu 125m2 trở nên để học Múa Cổ điển Châu Âu (Ballet) phải đầu tư hàng tỷ đồng, trong khi nhiều cơ sở đào tạo không có sàn tập hoặc sàn tập qui chuẩn, không có nơi để học sinh thực tập biểu diễn tác phẩm múa, kinh phí đầu tư cho dàn dựng tác phẩm múa trong các nhà trường rất hạn hẹp, nên nhiều cơ sở đào tạo không có được những tác phẩm cho học sinh thực hành, vì bỏ qua yêu cầu thực tập biểu diễn nên nhiều học sinh khi ra trường yêu cầu thực hiện theo năng lực rất kém, thiếu bản lĩnh, thiếu phong cách sân khấu.

Đội ngũ giáo viên, chưa có trường địa phương nào có đủ giáo viên cơ hữu cho đào tạo múa (chẳng hạn trường trung cấp VHNT Đồng Nai có 02; trường VHNT Bến Tre có 01;  VHNT Bình Dương có 02; VHNT Cần Thơ có 02). Trong khi chương trình đào tạo do Bộ GD&ĐT quy đinh, chuyên ngành múa gồm có Múa Cổ điển Châu Âu (ballet), Múa Dân gian, Múa Truyền thống, Múa Tính cách, Múa Hiện đại… Lớp nam và lớp nữ học riêng. Nếu chỉ có một hoặc hai giáo viên thì không thể “đa năng” đến mức dạy đủ tất cả các môn theo quy định, chưa kể đến giáo viên đệm nhạc cho múa balet, múa dân gian, múa truyền thống… dẫn đến hệ lụy ở các địa phương học sinh múa tốt nghiệp không xin được việc làm, học nghề múa nhưng lại phải làm nghề khác.

Công tác tuyển sinh, cái nghề trước đây được coi là “hót”, được xã hội tôn vinh và là sự ngưỡng mộ của công chúng bây giờ ngược lại, các trường tuyển chọn học sinh múa đều giảm sút, nhiều cơ sở đào tạo không tuyển được học sinh, hoặc tuyển sinh không đủ chỉ tiêu, có khi chỉ có 3 – 5 học sinh/lớp; tỷ lệ học sinh dự tuyển sinh trước đây là 10/1 nay chỉ có 3/1, 2/1, thậm chí 1/1, học sinh nam tham gia dự tuyển quá ít không có được sự cạnh tranh, nên chất lượng tuyển chọn đầu vào kém thì đầu ra sẽ tỷ lệ thuận với đầu vào. Mặt khác cơ chế thị trường chi phối, tình trạng học ít, chơi nhiều, tệ nạn xã hội, bỏ học đi làm thêm, cung cách quản lý chưa chặt chẽ của một số trường…đã ảnh hưởng trực tiếp đến đào tạo múa. Để khắc phục tình trạng đó, nhiều trường đã nâng cấp cơ sở vật chất, chiêu mộ, tăng cường đội ngũ giáo viên chuyên gia thỉnh giảng, cán bộ quản lý, đầu tư cho đào tạo múa, miễn giảm lệ phí tuyển sinh, tìm kiếm, phát hiện, tuyển chọn học sinh từ các trường phổ thông nhưng cũng không đủ sức hấp dẫn lôi cuốn, thu hút học sinh.

Công tác tuyển dụng, nhà nước đã có chính sách ưu tiên trong tuyển dụng, có ưu đãi “nghề” đối với nghệ sỹ, giáo viên múa nhưng đời sống của nghệ sỹ, giáo viên múa hiện nay còn rất khó khăn, lương và thu nhập khác chưa đủ để nuôi bản than và gia đinh do đó không thể yên tâm cống hiến, tìm tòi và sáng tạo; ngân sách để chi trả cho viết đề tài nghiên cứu khoa học, biên soạn giáo trình, sưu tầm, nghiên cứu, chỉnh lý, sáng tác múa quá hạn hẹp, thu nhập của người dạy so với sức lực, trí tuệ đầu tư còn quá thấp, chưa có chính sách thu hút giáo viên ngành múa…đã tạo ra những rào cản cho các nhà khoa học, các nghệ sỹ nhà giáo làm nghề dạy múa.

Học sinh học múa được những ưu đãi như giảm 70% học phí, phụ cấp nghề nghiệp, trang phục tập luyện, giày tất… nhưng chưa đủ sức hấp dẫn cho người học vì thời gian học múa khá dài (từ 4 – 6 năm), kinh phí đầu tư cho học múa tốn kém mà đầu ra còn nhiều bất cập, một số ít vào được các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp thì thu nhập thấp so với các ngành nghề khác, tuổi nghề lại ngắn. Trong khi việc tuyển chọn đào tạo múa theo yêu cầu chuyên môn như năng khiếu, cảm thụ âm nhạc, hình thể, độ mềm, độ mở, sức bật lại quá khắt khe. Do đó những năm trở lại đây, các cơ sở đào tạo ở các địa phương tuyển sinh học sinh múa đều giảm sút, nhiều trường không tuyển được học sinh đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, qui mô đào tạo múa.

Một số giải pháp phát triển

Trong điều kiện nay sự tác động không nhỏ của cơ chế thị trường, nghề múa đứng trước những thách thức mới, đòi hỏi sự đầu tư của nhà nước. Việc tham mưu, đề xuất giải pháp quản lý, hoạch định chính sách là rất cần thiết, từ đó cần có biện pháp tháo gỡ, tạo cơ chế, chính sách phù hợp cho nghệ sỹ giáo viên, học sinh ngành múa

Giải pháp “Tuyên truyền, giáo dục, tôn vinh nghề múa”

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục làm thay đổi nhận thức trong nhân dân về sự cần thiết phải đầu tư cho VHNT (trong đó có múa) như tinh thần Nghị quyết 23-NQ/TW, ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới; căn cứ vào chương trình hành động, đặt ra lộ trình phù hợp nhằm đưa Nghị quyết 23 vào cuộc sống một cách có hiệu quả; tích cực tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá, tìm tòi phát hiện nghệ sỹ giáo viên, học sinh có nhiều đóng góp cho ngành múa.

Xây dựng chương trình kế hoạch hành động để ghi chép, thu thập chất liệu, tư liệu “sống” đang còn tiềm ẩn trong nhân dân, ở vùng dân tộc ít người có nguy cơ mai một để khai thác, bảo tồn và tôn vinh những giá trị múa do những nghệ nhân cao tuổi vẫn còn lưu giữ, bảo tồn; đồng thời làm thủ tục đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu nghệ sỹ ưu tú, nghệ sỹ nhân dân, nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân đối với nghệ sỹ nhà giáo đủ điều kiện.

Giải pháp “Phát triển nguồn nhân lực múa theo lộ trình”

Ở khu vực phía Nam, Trường múa TP Hồ Chí Minh đã hoàn tất Đề án “Chiến lược phát triển đào tạo múa TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2020 tầm nhìn đến năm 2030” gồm:

Giai đoạn 1 (2017 – 2020): Giữ vững thương hiệu, phấn đấu để trở thành điểm sáng trong lĩnh vực đào tạo múa của thành phố ở khu vực phía Nam, bằng việc nâng cao chất lượng đào tạo; chuẩn hóa đội ngũ giáo viên; tiếp tục hoàn thiện, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị; hoàn thiện chương trình giáo trình theo hướng hiện đại; mở rộng qui mô và đa dạng hóa loại hình đào tạo.

Giai đoạn 2 (2020 – 2030): Xây dựng và phát triển các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng  đội ngũ giảng viên múa TP Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực múa  đáp ứng được với nhu cầu đòi hỏi của xã hội, nâng cao khả năng thực hành biểu diễn, tích cực sưu tầm, nghiên cứu lý luận, định hướng cho sự phát triển nghệ thuật múa theo hướng Dân tộc – Hiện đại theo phong cách, bản sắc Việt Nam để chủ động hội nhập với các nước trong khu vực ASEAN.

Ngoài việc chuẩn hóa đội ngũ giáo viên thì đội ngũ diễn viên cũng phải được chuẩn hóa. Để có được sự chuẩn hóa, đối với nghề múa rất cần có những tiêu chuẩn diễn viên. Có được diễn viên giỏi thì vai trò người thầy tâm huyết yêu nghề, có kinh nghiệm giảng dạy cần được bổ sung và tăng biên chế giáo viên dạy múa, đảm bảo đủ về số lượng và cơ cấu ngành nghề, chức danh đào tạo sao cho đúng người, đúng việc; có chính sách thu hút người dạy, nâng chế độ thù lao giảng dạy theo đặc thù; nghiên cứu đề xuất mức trả thù lao được tính bằng: cấp, bậc, hạng; tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học, sưu tầm biên soạn giáo trình, sáng tác. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ nhà giáo, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, tác giả dàn dựng, sáng tác những tác phẩm múa có giá trị nghệ thuật.

Giải pháp “Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học”

Việc đầu tư, nâng cấp, sửa chữa cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhạc cụ, đạo cụ phù hợp với qui mô đào tạo múa cho các cơ sở đào tạo là yêu cầu cấp thiết. Với phương châm chuẩn hóa diện tích tối thiểu phục vụ đào tạo (phòng học, sàn tập, sân khấu thực hành, thư viện, giáo dục thể chất), khắc phục tình trạng sàn tập tạm bợ, cơ sở vật chất chưa đạt chuẩn.

Tiếp tục hoàn thiện chương trình, giáo trình theo qui định của Bộ GD&ĐT, Bộ VHTT&DL đảm bảo theo khung chương trình, nhưng vẫn có sự linh hoạt, phù hợp với vùng miền, giữ vững truyền thống trong đào tạo múa ở khu vực phía Nam và cả nước.

Giải pháp “Cơ chế chính sách cho người dạy và người học”

Đối với nghệ sỹ giáo viên dạy múa, cần có chính sách lương, tham mưu đề xuất nâng chế độ luyện tập, biểu diễn và ưu đãi nghề thỏa đáng, nếu như được áp dụng chế độ cho giáo viên múa (gồm huấn luyện múa và biên đạo múa) được hưởng chế độ như huấn luyện viên Thể dục Thể thao, áp dụng chế độ thù lao như huấn luyện viên Danspots, được xếp hạng hoặc cấp; vận dụng điều chỉnh chế độ lương cho phù hợp với danh hiệu, chức danh huấn luyện viên hạng 1,2,3 hoặc cấp 1,2,3 nhằm nâng cao mức sống, đảm bảo cho nghệ sỹ nhà giáo có thể sống bằng nghề múa; vận dụng chế độ nghỉ hưu, mất sức cho nghệ sỹ nhà giáo phù hợp với giới tính, lứa tuổi, đặc thù nghề nghiệp.

Đối với học sinh múa cần có cơ chế, chính sách cho người học, miễn giảm học phí và phần ưu đãi cho học sinh nên trực tiếp (hiện nay đang áp dụng gián tiếp, người học giải quyết thủ tục học chập chạp, phiền hà nhiễu sách), tham mưu để nhà nước nâng định mức ngân sách dành cho đào tạo diễn viên múa.

Giải pháp “Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ chính sách, chấp hành chính sách”

Việc thanh tra, kiểm tra không phải chỉ giải quyết những vấn đề có dấu hiệu vi phạm, mà còn là công việc phải được làm thường xuyên. Trong quá trình quản lý đào tạo múa, luôn nảy sinh những bất cập vì thực hiện chế độ chính sách cho người học, người dạy; đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị; quản lý quy trình đào tạo: tuyển sinh, thi, cấp bằng tốt nghiệp; sáng tác, biểu diễn, nghiên cứu khoa học, nâng lương, bổ nhiệm, tuyển dụng, thi đua khen thưởng… sẽ nảy sinh nhiều vấn đề “nhạy cảm” trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Thanh tra, kiểm tra chính là quá trình sàng lọc, nhân rộng điển hình, những việc làm tốt, sáng tạo, hiệu quả một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác đúng người đúng việc; hạn chế khắc phục được những biểu hiện lệch lạc, lỗi lầm trong quá trình thực thi công vụ để chấp hành chính sách và thực thi chính sách một cách tốt nhất, hiệu quả nhất.

Thay lời kết

Để xứng đáng với vị thế con chim đầu đàn trong đào tạo nghệ thuật múa ở khu vực phía Nam, ngành múa rất cần thiết phải đề xuất với các cơ quan chức năng và thành phố giải quyết những bất cập hiện nay, có lộ trình và giải pháp cụ thể đầu tư cho lĩnh vực đào tạo múa theo từng giai đoạn. Đồng thời các cơ sở đào tạo múa cần vận dụng thế mạnh, tận dụng cơ hội, chớp thời cơ để thúc đẩy sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực nói chung và múa nói riêng để có được chất lượng nguồn nhân lực “ngành múa” vị thế vốn có, được trân trọng, được tôn vinh và cần được đầu tư./.

                                                                                            TP Hồ Chí Minh 6/2017

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Chính trị (2008), Nghị quyết 23-NQ/TW, ngày 16/6/2008 Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, Nxb sự thật Hà Nội.
  2. Lê Ngọc Canh (2002), Đại cương nghệ thuật múa, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội.
  3. Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (2014), Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  4. Vũ Ngọc Hải, Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (2007), Giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển hiện đại hóa, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *